Tiểu Sử Đại Lão Hòa Thượng THÍCH NHƯ TÍN
- Thành viên thường trực Hội đồng chứng minh TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Trưởng Ban điều hành Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh Việt Nam.
- Trụ trì tổ đình Hưng Long, phường Vườn Lài, Tp.Hồ Chí Minh.

I. Thân thế:
Hòa thượng thế danh Huỳnh Thứu, sinh năm Kỷ Mẹo (1939) tại thôn Phúc Khương, xã Đại Cường, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Nay là xã Vu Gia, thành phố Đà Nẵng. Thân phụ là cụ ông Huỳnh Thanh Dật, pháp danh Chơn Nhân, về sau xuất gia với tổ Hoằng Cam tại tổ đình Cổ Lâm, Đại Lộc có pháp tự Đạo Nghĩa, hiệu Minh Châu. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Kiến pháp danh Chơn Tánh.
Hòa thượng được sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời kính tín Tam Bảo. Trong thân tộc có nhiều vị xuất gia tu học tại tổ đình Cổ Lâm, huyện Đại Lộc và đảm nhiệm hoằng pháp tại các chùa trong vùng. Với truyền thống tốt đẹp ấy là một duyên lành thù thắng để Hòa thượng sớm bén mầm với chốn Không môn và phát tâm xuất gia tu học.
II. Thời kỳ xuất gia tu học:
Năm Mậu Tý (1948), Ngài được song thân cho nhập chúng hành điệu tại tổ đình Cổ Lâm dưới sự hướng dẫn của hòa thượng Chơn Thông hiệu Đồng Phước, là thúc phụ của Ngài. Sau 6 năm hành điệu, nhận thấy Ngài căn cơ vượt trội các chúng điệu khác, vào năm Giáp Ngọ (1954), hòa thượng Đồng Phước đã đưa Ngài về tổ đình Chúc Thánh lạy Hòa thượng Tăng Cang thượng Chơn hạ Chứng hiệu Thiện Quả làm thầy Bổn sư thế độ. Ngài được đức Tăng cang nhận vào hàng môn đệ ban cho pháp danh Như Tín.
Tại tổ đình Chúc Thánh, nơi phát nguồn của thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh, Hòa thượng được Bổn sư giáo dưỡng một cách chuẩn mực theo thiền môn quy cũ nên đạo tâm ngày càng kiên định, tuệ căn ngày càng phát triển. Đến năm Mậu Tuất (1958), ngài được Bổn sư truyền trao Sa-di giới và được ban pháp tự Giải Tấn, nối pháp đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh.
Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài được Bổn sư cho ra nhập chúng tu học tại tổ đình Tam Thai, Ngũ Hành Sơn do hòa thượng pháp huynh Thích Trí Giác đang trụ trì. Đồng thời, Ngài theo học lớp Sơ đẳng Phật học tại Phật học viện Phổ Đà do hòa thượng Thích Trí Hữu làm Giám viện.
Năm Canh Tý (1960), Hòa thượng tiếp tục theo học khóa Trung đẳng Phật học tại Phật học viện Hải Đức, Nha Trang. Đến năm Nhâm Dần (1962), Hòa thượng vào Sài Gòn nhập chúng chùa Hưng Long và Bửu Đà, quận 10 để tiếp tục theo học tại Phật học viện Giác Sanh.
Năm Giáp Thìn (1964), Hòa thượng đăng đàn thọ Cụ túc giới tại Việt Nam Quốc Tự do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất làm đàn đầu. Bấy giờ Hòa thượng Bổn sư đã viên tịch, ngài cầu pháp với Hòa thượng pháp huynh Thích Trí Nhãn đương kim trụ trì tổ đình Chúc Thánh, được ban pháp hiệu Huệ Phát.
Từ năm 1964 đến năm 1968, Hòa thượng theo học lớp Cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm do chư vị Hòa thượng Thích Thiền Tâm, Thích Bửu Huệ v.v…giảng dạy. Pháp lữ đồng học trong niên khóa này có các vị như: Thích Bảo Lạc, Thích Ngộ Hạnh, Thích Quảng Hạo, Thích Minh Thiền, Thích Thiện Trí, Thích Đồng Niệm v.v…Hiện nay còn hòa thượng Thích Bảo Lạc đang hành đạo tại Úc; Hòa thượng Thích Thiện Trí: trụ trì chùa Huyền Trang v.v…
III. Thời kỳ hành đạo:
Trong giai đoạn còn là học Tăng, ngài tham gia tích cực vào phong trào đấu tranh năm 1963, chống chính sách kỳ thị tôn giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm. Đêm 20 tháng 8, Ngài bị bắt giam tại An Dưỡng Địa và mãi cho đến ngày 1 tháng 11 năm 1963 mới được trả tự do.
Sau khi tốt nghiệp Phật học viện Huệ Nghiêm, Ngài được chư tôn đức tín nhiệm cử giữ chức vụ Đặc ủy Thanh niên GHPGVNTN tỉnh Gia Định từ năm 1970 cho đến năm 1981.
Từ năm 1971 đến năm 1983, Ngài được cử làm Giám học và Giáo thọ giảng dạy tại các nơi như: trường Bồ đề Huệ Quang, Bồ đề Hạnh Đức, Bồ đề Cholon, Bồ đề Anoma, Phật học viện Giác Sanh, Phật học viện Huỳnh Kim v.v…góp phần đào tạo các thế hệ Tăng Ni cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Năm Quý Sửu (1973), Hòa thượng đảm nhiệm Chánh đại diện Phật giáo quận Tân Bình cho đến những năm 1981 khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời.
Hòa thượng tham gia vào Ban trị sự Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh qua các nhiệm kỳ như sau: Nhiệm kỳ 6 (2002-2007), Hòa thượng là Ủy viên Ban trị sự Tp.Hồ Chí Minh, đảm nhiệm Phó Ban trị sự Phật giáo Quận 10, Thư ký Ban tăng sự Tp.Hồ Chí Minh. Nhiệm Kỳ 7 (2007-2012), Hòa thượng được cử làm Phó Ban trị sự kiêm Phó Ban Tăng sự Phật giáo thành phố. Nhiệm kỳ 8 (2012-2017), Hòa thượng tiếp tục giữ chức vụ Phó Ban trị sự kiêm Trưởng Ban kiểm soát thành hội Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh.
Trong Đại hội nhiệm kỳ 8 (2017-2022), Hòa thượng được suy tôn thành viên Hội đồng chứng minh kiêm Chứng minh Ban trị sự Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh. Đến nhiệm kỳ 10 (2022-2027), Ngài được cung thỉnh vào Ban thường trực Hội đồng Chứng Minh TW. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày viên tịch.
Hòa thượng được cung thỉnh làm Giới sư trong các giới đàn do thành hội Phật giáo Tp.Hồ Chí Minh tổ chức.
Với những đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc, hòa thượng được chính phủ trao tặng những phần thưởng cao quý như: Huân chương đại đoàn kết dân tộc; Huân chương lao động hạng ba; Huy chương vì sự nghiệp đoàn kết dân tộc; Ủy Ban nhân dân Tp.Hồ Chí Minh trao tặng nhiều bằng khen thưởng.
Vào năm Đinh Mão (1987), Chư tôn đức tại Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Tp.Hồ Chí Minh tổ chức lễ về nguồn đầu tiên tại Tổ đình Chúc Thánh, Tp. Hội An. Hòa thượng là thành viên Ban điều hành Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh. Ngài đảm nhiệm Trưởng ban Điều hành Chi phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Tp.Hồ Chí Minh từ những buổi đầu thành lập.
Năm Ất Dậu (2005), Hòa thượng cùng với chư tôn đức trong Thiền phái Chúc Thánh đồng tâm hiệp lực trùng tu lại Tổ đình Chúc Thánh khang trang như hiện nay.
Năm Kỷ Sửu (2009), Hòa thượng Thích Đỗng Quán viên tịch, Ngài được chư tôn đức trong Tông môn cung thỉnh làm Trưởng Ban điều hành Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh cho đến ngày hôm nay. Hòa thượng đã tổ chức thành công hội thảo: “Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh: Lịch sử hình thành và phát triển” vào năm 2023. Trong cương vị Trưởng ban điều hành, Hòa thượng đã tích cực vận động xây dựng chi phái các tỉnh thành, gắn kết tình tông môn pháp phái. Nơi đâu có Phật sự thỉnh cầu, Hòa thượng đều hoan hỷ quang lâm sách tấn, từ quê hương Quảng Nam thân yêu cho đến các tỉnh thành miền Tây, cao nguyên Trung phần hay tại hải ngoại như các châu Úc, châu Âu v.v…Trong cương vị Như lai Sứ giả, Hòa thượng đã kiến tạo, trùng tu nhiều tự viện để có nơi tu học hành đạo cho chư Tăng, Ni và làm nơi chiêm bái cho hàng Phật tử tại gia.
Năm Quý Mão (1963), Hòa thượng đã xây dựng chùa Thanh Tuyền tại Quận 4 để có chỗ lưu trú cho Tăng Ni Quảng Nam vào Sài Gòn tu học.
Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng cùng với quý ngài như HT Bảo Lạc, Ngộ Hạnh, Quảng Hạo, Minh Thiền, Thiện Trí, Đồng Niệm thành lập Lưu học xá Huyền Trang. Đến năm Kỷ Dậu (1969), Hòa thượng khai sơn chùa Huyền Trang quận Tân Bình và năm Canh Tuất (1970) tiếp tục kiến tạo chùa Phước Sơn quận Tân Phú và trùng tu chùa Phước Sơn vào những năm 1988 và 2011.
Năm Kỷ Tỵ (1989), sau khi Hòa thượng Huệ Quý viên tịch, Ngài được Môn phái và Giáo hội đề cử kế nghiệp trụ trì Tổ đình Hưng Long là ngôi Tổ đình của Chi phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Tp.Hồ Chí Minh. Năm Tân Tỵ (2001), Hòa thượng đã đại trùng tu Tổ đình Hưng Long khang trang như hiện nay để Tăng chúng các nơi có điều kiện về tu tập và tham học ở các trường Phật học tại thành phố.
Năm Nhâm Thìn (2012), Hòa thượng tiếp tục khai kiến Tịnh thất Hưng Long tại xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Tp.Hồ Chí Minh và giao cho đệ tử Thích Thị Hải đảm nhiệm trụ trì tại đây.
Với Tổ đình Cổ Lâm, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ), nơi Hòa thượng sơ phát tâm tu học, Ngài cũng đã dành tâm huyết trùng tu xây dựng. Ngài cùng cố Hòa thượng Thích Như Thọ trụ trì chùa Bửu Đà về trùng tu chùa hai lần vào năm Kỷ Tỵ (1989) và năm Nhâm Thìn (2012). Lần trùng tu lần thứ 2 kéo dài 3 năm cho đến năm 2014 mới hoàn tất với dáng dấp quy mô, xứng tầm ngôi danh lam cổ tự của xứ Quảng.
Suốt năm mươi năm hoằng hóa, với sứ mệnh “Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”, Hòa thượng đã thế độ trên 20 vị đệ tử Tăng Ni xuất gia, hiện nay có nhiều vị đã trưởng thành ra đảm đang các công tác Phật sự được Giáo hội giao phó. Các thế hệ học tăng lưu trú tại Tổ đình Hưng Long theo học các trường Cao trung Phật học dưới sự giáo dưỡng, bảo bọc của Hòa thượng cũng đã trưởng thành và thừa hành Phật sự trên khắp cả nước.
IV. Thời kỳ viên tịch
Gần 90 năm nương huyễn thân để chuyển tải đạo lý giải thoát của Phật đà đến khắp nhân sinh. Theo quy luật “Hành trụ hoại không” thân tứ đại của Hòa thượng cũng hao mòn theo năm tháng; tuy nhiên, vì công việc Phật sự của Giáo hội và của Tông môn nên Hòa thượng chưa có một ngày ngơi nghỉ. Cuối năm Ất Tỵ (2025), bệnh duyên bộc phát, Môn đồ đệ tử đã đưa Hòa thượng vào điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Tuy vậy, nhân duyên hóa đạo của Ngài đã mãn nên Hòa thượng đã xả huyễn thân theo lý vô thường. Ngài đã viên tịch vào lúc 9 giờ 24 phút ngày 16 tháng Giêng năm Bính Ngọ (nhằm ngày 04/03/2026), trụ thế 88 năm, trải qua 61 năm hạ lạp.
Nam mô Lâm Tế Tông, Chúc Thánh Pháp Phái Đệ Bát Thế, Trùng Kiến Hưng Long Tổ Đình Trụ Trì, Húy thượng NHƯ hạ TÍN, Tự GIẢI TẤN, Hiệu HUỆ PHÁT Huỳnh Công Hòa thượng Giác Linh Tân Viên Tịch Thùy Từ Chứng Giám.




