Home » Tàng Kinh Các » Kinh Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật – Quyển Thượng

Kinh Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật – Quyển Thượng

Mục Tàng Kinh Các

SỐ 245
KINH PHẬT THUYẾT NHÂN VƯƠNG BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT
Hán dịch: Ðời Diêu Tần, Tam tạng Cưu-ma-la-thập
QUYỂN THƯỢNG

Phẩm 1: MỞ ÐẦU

Tôi nghe như vầy:
Một thuở nọ, Ðức Phật ngự trong núi Kỳ-xà-quật thuộc thành Vương xá, cùng với tám trăm vạn ức chúng đại Tỳ-kheo bậc Hữu học và Vô học đều là bậc A-la-hán, với công đức hữu vi, công đức vô vi. Bậc mười trí vô học, bậc tám trí hữu học, sáu trí hữu học, ba thiện căn, mười sáu tâm hạnh, quán pháp giả hư thật, quán thọ giả hư, thật quán danh giả hư thật, quán môn ba Không, bốn Ðế, mười hai Nhân duyên, vô lượng công đức đều thành tựu.
Lại có tám trăm muôn ức Ðại tiên Duyên giác, chẳng đoạn, chẳng thường, quán Tứ đế, mười hai nhân duyên đều thành tựu.
Lại có chín trăm muôn ức vị Ðại Bồ-tát đều là bậc A-la-hán, đầy đủ công đức thật trí, phương tiện trí tu theo Ðại thừa, bốn Nhãn, năm Thần thông, ba Ðạt, mười Lực, bốn Tâm vô lượng, bốn Biện tài, bốn Nhiếp pháp, Kim cang diệt định, tất cả công đức đều thành tựu.
Lại có ngàn muôn ức vị Hiền giả giữ năm giới, đều thực hành A-la-hán, đầy đủ mười Ðịa, mười Hồi hướng, năm phần Pháp thân, vô lượng công đức đều thành tựu.
Lại có mười ngàn vị Ưu-bà-di giữ năm giới đều thực hành A-la-hán, mười Ðịa đều thành tựu, vừa sinh công đức, đang sinh công đức, đã sinh công đức, ba mươi loại phát sinh công đức đều thành tựu.
Lại có mười ức vị cư sĩ ở bậc hiền thứ bảy, đầy đủ đức hạnh, bốn Niệm xứ, bốn Chánh cần, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, mười Nhất thiết nhập, tám Trừ nhập, tám Giải thoát, ba Tuệ, mười sáu hành tướng, bốn Ðế, phẩm thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư, quán chiếu được chín mươi nhẫn, tất cả công đức đều thành tựu.
Lại có vạn vạn ức chư Thiên ở chín cõi trời Phạm: ba tầng trời Tịnh thiên, ba tầng trời Quang thiên và ba tầng trời Phạm thiên, Ngũ hỷ lạc thiên, Ðịnh công đức thiên, Ðịnh vị thường lạc thần thông, mười tám sinh xứ công đức đều thành tựu.
Lại có ức ức các Thiên tử ở sáu tầng trời cõi Dục, nhờ quả báo mười điều lành nên thần thông công đức đều thành tựu.
Lại có mười sáu vị đại quốc vương, mỗi vị đều có một vạn, hai vạn, cho đến mười vạn quyến thuộc đã thọ Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện công đức thanh tịnh, tín, hạnh đầy đủ.
Lại có trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, vô số chúng ở mười phương, không có hạn lượng, lại có khắp mười phương tịnh độ, hóa hiện trăm ức tòa cao, hóa ra trăm ức hoa báu Tu-di. Mỗi vị đều ngồi trên một tòa hoa.
Lại có vô lượng vị Hóa Phật, vô lượng Bồ-tát, Tỳ-kheo, tám bộ chúng, mỗi vị đều ngồi trên hoa sen báu. Trên mỗi hoa có vô lượng cõi nước, mỗi cõi nước đều có Phật và đại chúng như nay không khác. Trong mỗi cõi nước đều có Phật và đại chúng giảng nói Bát-nhã ba-la-mật. Ðại chúng và hóa chúng ở phương khác cùng mười hai đại chúng ở trong ba cõi này đều đến ngồi trên tòa hoa sen. Chỗ ấy rộng chín trăm năm mươi dặm, đại chúng ngồi an nhiên.
Lúc bấy giờ, vào ngày mồng tám tháng giêng, Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhập đại định, tư duy rồi phát ra ánh sáng rực rỡ soi sáng ba cõi. Trên đỉnh đầu Phật phát ra hoa sen ngàn cánh. Hoa đó cao lên đến cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng ánh sáng cũng giống như thế cho đến hằng hà sa cõi nước chư Phật ở phương khác.
Khi ấy, cõi Vô sắc rải xuống vô lượng hương hoa như mưa, tạo thành vô lượng lọng hoa như bánh xe, cao như núi Tu-di chúa như đám mây hạ xuống.
Mười tám vị Phạm thiên mưa trăm thứ hoa, màu sắc biến đổi, ở cõi Dục chư Thiên rải hoa như mưa, vô lượng màu sắc. Ðức Phật an nhiên ngồi trên tòa phát ra chín trăm muôn ức hoa, lên đến cõi Phi tưởng phi phi tưởng. Khi ấy, cả thế giới rung chuyển sáu cách.
Bấy giờ các đại chúng đều sinh nghi, bảo nhau: “Ðức Ðại Giác Thế Tôn có bốn Vô sở úy, mười tám pháp Bất cộng, Ngũ nhãn pháp thân, đều do trước đây trong hai mươi chín năm đã vì chúng ta giảng nói Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật, Kim cang Bát-nhã ba-la-mật, Thiên Vương Vấn Bát-nhã ba-la-mật, Quang Tán Bát-nhã ba-la-mật.
Ngày nay Ðức Như Lai phát ra ánh sáng rực rỡ khắp nơi chắc có sự kiện gì?”
Trong mười sáu vị đại quốc vương có vua Ba-tư-nặc còn gọi là Nguyệt Quang ở nước Xá-vệ, đầy đủ đức hạnh ở mười Ðịa, sáu pháp Ba-la-mật, ba mươi bảy phẩm Trợ đạo, đạt bốn Bất hoại tịnh, trị nước bằng giáo pháp Ðại thừa. Vua hỏi lần lượt tám trăm người từ cư sĩ Bảo Cái Pháp Tịnh… vua lại hỏi về năm ngàn vị như Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất… vua lại hỏi mười ngàn vị như Di-lặc, Sư Tử Hống… không ai trả lời được.
Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc dùng thần lực trổi lên tám vạn loại âm nhạc. Mười tám vị Phạm thiên và chư Thiên ở cõi Dục cũng trổi lên tám vạn loại âm nhạc vang dội khắp tam thiên cho đến hằng hà sa cõi Phật ở mười phương những ai có nhân duyên đều đến hội họp.
Cõi Phật ở phương Nam có Bồ-tát Pháp Tài cùng năm trăm vạn ức đại chúng đều đến hội họp. Ở phương Ðông Bồ-tát Pháp Trụ và chín trăm vạn ức đại chúng đều đến hội họp. Ở phương Bắc, Bồ-tát Hư Không Tánh cùng trăm ngàn vạn ức đại chúng đều đến hội họp.
Ở phương Tây, Bồ-tát Thiện Trụ cùng mười hằng hà sa đại chúng đều đến hội họp, tất cả sáu phương đều như vậy. Những người đã đến trong hội này đều cùng nhau trổi lên vô lượng âm nhạc đánh thức Như Lai.
Biết đã đến lúc chúng sinh phát sinh gốc lành, Ðức Phật liền xuất định, ngồi trên tòa sen cao như núi Kim cang chúa. Ðại chúng đều vui mừng, hiện vô lượng thần thông, rồi an trụ giữa hư không hoặc trên mặt đất.

Phẩm 2: QUÁN KHÔNG

Lúc bấy giờ, Ðức Phật bảo đại chúng:
Ta biết mười sáu vị đại quốc vương muốn hỏi về nhân duyên che chở giữ gìn cõi nước, nay trước tiên ta vì các Bồ-tát nói nhân duyên hộ trì Phật quả, nhân duyên hộ trì mười Ðịa hành. Hãy lắng nghe, hãy lắng nghe khéo léo suy nghĩ, đúng như pháp thực hành!
Khi ấy, vua Ba-tư-nặc nghĩ rằng: “Ðây là một nhân duyên lớn tốt lành”, vua liền rải trăm ức thứ hoa nhiều màu, hoa ấy biến thành trăm ức lọng báu che khắp các đại chúng.
Vua đảnh lễ Phật rồi thưa:
Bạch Ðức Thế Tôn! Vì sao tất cả Bồ-tát hộ trì Phật quả, vì sao hộ trì mười Ðịa hành?
Phật bảo:
Bồ-tát giáo hóa bốn loài chúng sinh, quán sắc như thọ, tưởng, hành, thức như; chúng sinh, ngã, nhân, thường lạc ngã tịnh như; tri kiến, thọ giả như, Bồ-tát như sáu pháp Ba-la-mật như, bốn Nhiếp pháp như, tất cả hạnh như, hai Ðế như, cho nên tất cả pháp Thánh chân thật không:
“Không đến, không đi, không sinh, không diệt”, đồng với mé chân, bình đẳng với pháp tánh, như hư không, không hai, không khác.
Vì vậy ấm, nhập, giới vô ngã, không có tướng thật gọi là Bồ-tát hành hóa Bát-nhã ba-la-mật trong mười Ðịa.
Bạch Thế Tôn! Nếu các pháp như vậy thì Bồ-tát hộ trì, giáo hóa chúng sinh là giáo hóa chúng sinh chăng?
Này đại vương! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thường, lạc, ngã, tịnh của pháp tánh không trụ sắc, không trụ phi sắc, không trụ phi phi sắc cho đến thọ, tưởng, hành, thức cũng không trụ, chẳng phải chẳng trụ. Vì sao? Vì phi sắc như, phi phi sắc như, vì tục đế, vì ba pháp giả nên thấy chúng sinh, tất cả chúng sinh tánh thật cho đến chư Phật, ba thừa, bảy Hiền, tám Thánh cũng gọi là thấy. Sáu mươi hai kiến cũng gọi là thấy. Ðại vương! Nếu dùng danh gọi là thấy tất cả pháp, cho đến chư Phật, ba thừa, bốn loại chúng sinh chẳng phải chẳng thấy tất cả pháp.
Bạch Thế Tôn! Bát-nhã ba-la-mật có pháp, chẳng phải chẳng có pháp thì pháp Ðại thừa làm sao quán chiếu được?
Ðại vương! Ðại thừa thấy chẳng phải chẳng có pháp. Nếu pháp chẳng phải chẳng có pháp, đó gọi là phi phi pháp không, pháp tánh không; sắc, thọ, tưởng, hành, thức không, mười hai nhập không, mười tám giới không, sáu đại pháp không, bốn đế không, mười hai nhân duyên không. Pháp này tức sinh, tức trụ, tức diệt, tức hữu, tức không, mỗi một sát-na cũng đều là pháp sinh, pháp trụ, pháp diệt. Vì sao? Vì chín mươi sát-na là một niệm. Trong một niệm, một sát-na trải qua chín trăm lần sinh diệt, cho đến sắc tất cả pháp cũng như vậy.
Vì Bát-nhã ba-la-mật là không cho nên không thấy duyên, không thấy đế, cho đến tất cả pháp không, nội không, ngoại không, nội ngoại không, hữu vi không, vô vi không, vô thỉ không, tánh không, Ðệ nhất nghĩa không, Bát-nhã ba-la-mật không, nhân không, Phật quả không, không không, cho nên đều không, chỉ do các pháp tập hợp mà có. Thọ tập nên có, danh tập nên có, nhân tập nên có, quả tập nên có, mười hành tập nên có, Phật quả tập nên có, cho đến sáu đường chúng sinh trong tất cả cõi.
Này thiện nam! Nếu Bồ-tát nào thấy pháp chúng sinh, ngã, nhân, tri kiến, người ấy hành thế gian mà không thế gian. Ðối với các pháp không động, không đến, không diệt, vô tướng, chẳng phải vô tướng, mỗi tướng đều như vậy. Chư Phật, Pháp, Tăng cũng như vậy. Ðây là một niệm tâm của Sơ địa đầy đủ tám mươi bốn ngàn Bát-nhã ba-la-mật tức gọi là Ma-ha-diễn, tức diệt là Kim cang, cũng gọi là Ðịnh, là Nhất thiết hành, như có nói trong Quang Tán Bát-nhã ba-la-mật.
Ðại vương! Ðây là danh vị cú của kinh, trăm, ngàn, vạn Phật nói danh vị cú.
Trong hằng hà sa tam thiên đại thiên cõi nước thành tựu bảy loại báu vô lượng, bố thí cho chúng sinh trong tam thiên cõi nước đều được bảy bậc hiền, bốn quả, không bằng có một niệm tin kinh này. Huống gì giải thích một câu, câu chẳng phải câu, chẳng phải chẳng phải câu, nên Bát-nhã chẳng phải câu, câu chẳng phải Bát-nhã. Bát-nhã cũng chẳng phải Bồ-tát. Vì vậy, cho nên mười Ðịa, ba mươi sinh là không, vừa sinh, đang sinh, đã sinh, không thật có. Ba sinh trong các địa là không, cũng không phải Nhất thiết trí, không phải Ðại-thừa vì là không.
Ðại vương! Nếu Bồ-tát thấy cảnh, thấy trí, thấy thuyết, thấy thọ đó chẳng phải là sự thấy biết của bậc Thánh. Ðó là pháp thấy biết điên đảo, là hạng phàm phu.
Thấy ba cõi chỉ là tên gọi quả báo của chúng sinh. Sáu thức khởi lên thì vô lượng sự ham muốn cùng cực gọi là Dục giới tạng không.
Nghiệp quả khởi lên ở cõi Sắc gọi là Sắc giới tạng không. Nghiệp quả khởi lên ở tâm sở gọi là Vô sắc giới tạng không. Vô minh là căn bản của ba cõi cũng là không, ba địa chín sinh diệt, vô minh dẫn đầu trong ba cõi trước nhóm họp, ngoài ra Tập, quả báo là không. Bồ-tát Kim cang thấu rõ Tam-muội lý tận hoặc quả sinh diệt không, hữu quả không, nhân không cho nên không, Nhất thiết trí cũng không, diệt quả không. Vì trước đã không nên Phật đắc ba quả vô vi, trí duyên diệt, chẳng phải trí duyên diệt hư không, quả Nhất thiết trí là không.
Này thiện nam! Nếu có người nào biết tu tập, lắng nghe, vô thính, vô thuyết như hư không. Pháp đồng pháp tánh, nghe đồng nói đồng, tất cả pháp đều như.
Ðại vương! Bồ-tát tu pháp hộ trì Phật quả, vì như thế nên hộ trì Bát-nhã ba-la-mật là hộ trì Nhất thiết trí, mười Lực, mười tám pháp Bất cộng, năm loại mắt, năm phần Pháp thân, bốn Tâm vô lượng, tất cả công đức quả vị đều như thế.
Khi Phật nói pháp như vậy có vô lượng trời, người được Pháp nhãn tịnh, Tánh địa, Tín địa, có trăm ngàn người đều đắc Ðại không, đại hạnh của Bồ-tát.

Phẩm 3: BỒ TÁT GIÁO HÓA

Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ-tát hộ trì hạnh mười Ðịa thì hạnh nào có thể thực hành? Hạnh nào có thể giáo hóa chúng sinh, tướng chúng sinh nào có thể giáo hóa?
Phật dạy:
Ðại vương! Năm Nhẫn là pháp Bồ-tát:

  1. Phục nhẫn thượng, trung, hạ.
  2. Tín nhẫn thượng, trung, hạ.
  3. Thuận nhẫn thượng, trung, hạ.
  4. Vô sinh nhẫn thượng, trung, hạ.
  5. Tịch diệt nhẫn thượng, trung, hạ.

Chư Phật, Bồ-tát đều tu Bát-nhã ba-la-mật.
Người thiện nam mới phát tâm kính tin có hằng hà sa chúng sinh tu hành pháp Nhẫn nhục.
Ðối với Tam bảo sinh mười tâm tập chủng tánh, Tín tâm, Tinh tấn tâm, Niệm tâm, Tuệ tâm, Ðịnh tâm, Thí tâm, Giới tâm, Hộ tâm, Nguyện tâm, Hồi hướng tâm, đó là Bồ-tát đã dùng một phần nhỏ khả năng của mình để giáo hóa chúng sinh vượt qua Nhị thừa, tất cả thiện địa.
Tất cả chư Phật, Bồ-tát nuôi dưỡng mười tâm làm mầm Thánh, lần lượt phát sinh Càn tuệ tánh, Tập chủng tánh, đầy đủ mười tâm, bốn Niệm xứ: thân bất tịnh, thọ thì khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã; ba gốc lành: Từ, Thí, Tuệ; ba đời: nhân nhẫn quá khứ, nhân quả nhẫn hiện tại, quả nhẫn vị lai. Vị Bồ-tát này cũng giáo hóa tất cả chúng sinh, đầy đủ năng lực vượt qua vọng tưởng ngã, nhân, tri kiến, chúng sinh… không bị phá hoại bởi vọng tưởng điên đảo của ngoại đạo.
Lại có Thập đạo chủng tánh địa, đó là quán sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chứng đắc Giới nhẫn, Tri kiến nhẫn, Ðịnh nhẫn, Tuệ nhẫn, Giải thoát nhẫn, quán nhân quả trong ba cõi, Không nhẫn, Vô nguyện nhẫn, Vô tướng nhẫn; quán sự hư thật của hai đế, biết tất cả pháp vô thường chứng đắc Vô thường nhẫn. Biết tất cả pháp không, đắc Vô sinh nhẫn. Ðó gọi là Bồ-tát đầy đủ mười tâm vững chắc để làm vua Chuyển luân, cũng có khả năng giáo hóa bốn châu thiên hạ, làm cho tất cả chúng sinh sinh các gốc lành.
Bồ-tát Tín nhẫn, thông suốt hoàn toàn, lúc hành đạo cắt đứt phiền não trói buộc trong ba cõi, ngài có khả năng giáo hóa chúng sinh trong trăm, ngàn, vạn cõi Phật, hiện ra trăm, ngàn vạn thân đầy đủ vô lượng công đức và thần thông. Ngài thường dùng mười tám tâm làm đầu: bốn Nhiếp pháp, bốn Tâm vô lượng, bốn Thệ nguyện rộng lớn, ba môn giải thoát. Bồ-tát từ thiện địa hướng đến về Nhất thiết trí dùng mười lăm tâm này làm chủng tử căn bản của tất cả các hạnh.
Bồ-tát Thuận nhẫn, thấy hiện pháp trong thù thắng, dứt bỏ phiền não trói buộc tâm ở ba cõi. Hiện một thân trong các cõi Phật ở mười phương, dùng vô lượng không thể tính được, các thứ thần thong để giáo hóa chúng sinh.
Bồ-tát Vô sinh nhẫn còn gọi là Viễn bất động quán tuệ, cũng dứt bỏ tập khí phiền não của sắc tâm trong ba cõi hiện bất khả thuyết, bất khả thuyết vô lượng công đức thần thông.
Lại nữa Tịch diệt nhẫn, chư Phật và Bồ-tát đều dùng nhẫn này để vào Tam-muội Kim cang.
Thực hành hạ nhẫn gọi là Bồ-tát
Thực hành thượng nhẫn là Nhất thiết trí.
Cùng quán Ðệ nhất nghĩa đế, dứt bỏ tâm tập khí vô minh trong ba cõi. Thấu rõ tướng là Kim cang. Thấu rõ tướng, vô tướng là Nhất thiết trí. Vượt ra ngoài Thế đế, Ðệ nhất nghĩa đế là thực hành Ðịa thứ mười một Nhất thiết trí. Biết rõ chẳng phải có, chẳng phải không, vắng lặng, thanh tịnh, thường trụ bất biến, đồng với chân như, bình đẳng với pháp tánh, vô duyên đại Bi, giáo hóa tất cả chúng sinh, nương Nhất thiết trí đến giáo hóa tất cả chúng sinh trong ba cõi.
Này thiện nam! Tất cả chúng sinh bị phiền não trói buộc không thoát ra khỏi ba cõi. Tất cả chúng sinh chịu quả báo hai mươi hai căn không ra khỏi ba cõi. Chư Phật – Ứng, Hóa, Pháp thân cũng không ra khỏi ba cõi. Ngoài ba cõi không có chúng sinh, chư Phật làm sao giáo hóa? Cho nên ta nói:
Ngoài ba cõi riêng có một chúng sinh giới tạng. Ngoài đạo trong kinh Ðại thừa nói chẳng phải lời do bảy Ðức Phật nói.
Ðại vương! Ta thường nói tất cả chúng sinh dứt bỏ quả báo phiền não trong ba cõi gọi là Phật. Tự tánh thanh tịnh gọi là Giác Nhất thiết trí tánh. Bản nghiệp của chúng sinh là sự tu hành theo bản nghiệp của chư Phật, Bồ-tát. Trong năm nhẫn đầy đủ mười bốn nhẫn.
Bạch Thế Tôn! Thế nào là Bồ-tát bản nghiệp thanh tịnh giáo hóa chúng sinh?
Phật dạy:
Từ địa này cho đến địa sau, từ hành xứ của mình và hành xứ của Phật, tất cả tri kiến tùy theo bản nghiệp.
Nếu Bồ-tát trụ trong trăm cõi Phật, làm Tứ Thiên vương ở cõi Diêm-Phù-đề tu hành trăm pháp môn, dùng tâm bình đẳng của hai đế giáo hóa tất cả chúng sinh ở Sơ địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong ngàn cõi Phật, làm vua cõi trời Ðao-lợi, tu ngàn pháp môn, mười đường lành, giáo hóa tất cả chúng sinh ở Nhị địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong mười vạn cõi Phật làm Diệm Thiên vương, tu mười vạn pháp môn đạt Tứ thiền định, giáo hóa chúng sinh ở Tam địa.
Nếu Bồ-tát ở trăm ức cõi Phật làm vua cõi trời Ðâu-suất, tu trăm ức pháp môn hành đạo phẩm giáo hóa chúng sinh ở Tứ địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong ngàn ức cõi Phật làm vua cõi trời Hóa lạc, tu ngàn ức pháp môn, hai Ðế, bốn Ðế, tám Ðế, giáo hóa tất cả chúng sinh ở Ngũ địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong mười vạn ức cõi Phật làm vua cõi trời Tha hóa (tự tại), tu mười vạn ức pháp môn, mười hai nhân duyên, dùng trí giáo hóa chúng sinh ở Lục địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong trăm muôn ức cõi Phật, làm vua cõi Sơ thiền, tu trăm muôn ức pháp môn, phương tiện trí, nguyện trí giáo hóa tất cả chúng sinh ở Thất địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong trăm vạn vi trần sát cõi Phật, làm Phạm vương ở Nhị thiền, tu trăm muôn vi trần sát pháp môn, thấu suốt phương tiện thần thông trí, giáo hóa tất cả chúng sinh ở Bát địa.
Nếu Bồ-tát ở trăm muôn ức a-tăng-kỳ vi trần sát cõi Phật, làm Ðại Phạm vương ở Tam thiền, tu trăm muôn ức a-tăng-kỳ vi trần sát pháp môn, dùng bốn trí vô ngại giáo hóa tất cả chúng sinh ở Cửu địa.
Nếu Bồ-tát trụ trong vô số cõi Phật chẳng thể nêu bày làm Ðại tĩnh Thiên vương ở Tứ thiền, làm chủ ba cõi, tu vô số pháp môn chẳng thể nêu bày, đạt Tam-muội lý tận, đồng hành xứ của Phật, thấu rõ nguồn gốc ba cõi, giáo hóa tất cả chúng sinh như cảnh giới Phật. Cho nên bản nghiệp của tất cả Bồ-tát giáo hóa thanh tịnh. Nếu các Như Lai ở mười phương cũng tu nghiệp ấy thì sẽ tiến lên quả Nhất thiết trí, làm vua ba cõi, giáo hóa tất cả vô lượng chúng sinh ở Phật địa.
Khi ấy, trăm muôn ức hằng hà sa chúng đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi tung rải vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hoa, đốt vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hương, cúng dường Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni và vô lượng vị Ðại Bồ-tát, sau đó chắp tay lắng nghe vua Ba-tư-nặc nói kệ khen ngợi Phật.

Thế Tôn Ðạo Sư thân Kim cang
Tâm hành vắng lặng chuyển pháp luân
Ðủ tám âm thanh để nói pháp
Trăm ngàn muôn ức người đắc đạo
Trời, người sáu đường theo xuất gia,
Thành tựu Tỳ-kheo, hạnh Bồ-tát
Công đức năm nhẫn diệu pháp môn
Mười bốn Bồ-tát đều thấu hiểu,
Ba Hiền, mười Thánh đều hành nhẫn
Chỉ có Phật mới rõ nguyên do
Phật, Pháp, Tỳ-kheo kho Tam bảo
Vô lượng công đức ở nơi đây
Bồ-tát Thập thiện phát đại tâm,
Thoát hẳn biển luân hồi ba cõi
Trung hạ phẩm Thiện Túc Tán vương
Thượng phẩm Thập thiện Thiết Luân vương
Thập trụ Bồ-tát tập chủng tánh
Ðồng luân giáo hóa ở hai châu
Bồ-tát Thập hạnh tánh chủng tánh
Ngân luân giáo hóa ba thiên hạ
Luân vương bền đức đạo chủng tánh
Bảy báu chiếu sáng khắp bốn châu
Thánh thai phục nhẫn gồm ba mươi
Thập tín, Thập chỉ, Thập kiên tâm
Chư Phật ba đời hành trong đây
Ðều do phục nhẫn mà sinh ra
Tất cả Bồ-tát hành bản nguyện
Nên khó phát tâm và tín tâm
Nếu được tín tâm không lui sụt
Tiến đến đạo Sơ địa vô sinh
Giáo hóa chúng sinh hành Bồ-đề
Gọi là Bồ-tát sơ phát tâm.
Bồ-tát khéo giác cả bốn châu
Chiếu sáng hai Ðế đạo bình đẳng
Quyền hóa chúng sinh khắp trăm cõi
Mới lên đạo Nhất thừa vô tướng
Nhập lý Bát-nhã gọi là Trú
Trụ sinh đức hạnh gọi là Ðịa
Sơ trụ nhất tâm đủ đức hạnh
Ðối đệ nhất nghĩa tâm bất động
Bồ-tát Ly Ðạt vua Ðạo-lợi
Hiện thân sáu đường ngàn cõi nước.
Vô duyên, vô tướng đệ tam đế
Vô tử, vô sinh không có hai
Minh tuệ không chiếu Diệm Thiên vương
Hiện thân dẫn dắt muôn cõi nước
Nhẫn tâm không hai trong ba đế
Ra có vào không biến hóa sinh
Giác ngộ chúng sinh lìa ba cõi
Diệt sạch phiền não trong ba cõi
Lại quán thân miệng của chúng sinh
Pháp tánh bậc nhất chiếu khắp nơi
Trí tuệ sáng rực, đại tinh tấn
Vua trời Ðâu-suất dạo ức cõi
Thật trí duyên tịch phương tiện đạo
Ðạt đến vô sinh chiếu không hữu
Thắng tuệ tự thấu rõ ba đế
Vua trời Hóa lạc trăm ức cõi
Quán rõ đều không chẳng hai tướng
Ở trong vô gián hóa lục đạo
Bồ-tát pháp hiện trời Hóa lạc,
Không hai, không chiếu đạt lý không
Ba đế hiện tiền, đại trí sáng
Chiếu ngàn ức cõi độ tất cả.
Thắng pháp hiện bày vô định tướng
Tâm mê chìm đắm trong ba cõi
Không tuệ vắng lặng quán vô duyên
Lại quán tâm không vô lượng báo
Chứng đạt quả Sơ thiền vô sinh
Giáo hóa chúng sinh muôn ức cõi
Chưa độ báo thân trong một đời
Tiến vào đất đẳng quán pháp lưu
Mới vào vô duyên Kim cang nhẫn
Không còn báo thân trong ba cõi
Quán nghĩa thứ ba rõ không hai
Hai mươi mốt sinh, hạnh vắng lặng
Dùng định hàng phục ái ba cõi
Bồ-tát chứng đạt thấu hiểu rõ
Bồ-tát quán chiếu Nhị thiền vương
Biến sinh Pháp thân vô lượng quang
Vào trăm ức cõi độ tất cả.
Chiếu hết việc muôn kiếp ba đời
Quán đến tận gốc đều hư vô
Vào đế thứ ba thường vắng lặng
Bồ-tát Tuệ Quang nhập Tam thiền
Ngàn hằng sa kiếp cùng lúc hiện
Thường trụ hạnh vắng lặng vô vi
Một niệm thấu hằng sa Phật tạng
Bồ-tát quán đảnh vua Tứ thiền
Trong ức hằng cõi độ chúng sinh
Mới vào Kim cang rõ tất cả
Hai chín lần sinh đã độ hết,
Trong Tịch diệt nhẫn quán hạ nhẫn
Vừa chuyển Diệu giác thường vắng lặng
Bậc ba phẩm quán đảnh đẳng tuệ
Dứt duyên vô minh tập khí trước
Vô minh huân tập sinh phiền não
Thấu rõ hai đế diệt tất cả
Viên trí vô tướng vua ba cõi
Ba mươi đời đều đồng đại giác
Kim cang tạng vắng lặng vô vi
Sạch tất cả báo, bi vô cực
Ðệ nhất nghĩa đế thường an ổn
Dứt hết tâm tánh còn diệu trí
Ba hiền, mười Thánh trụ quả báo
Chỉ có Ðức Phật ở Tịnh độ
Tất cả chúng sinh tạm trú báo
Lên nguồn Kim cang ở Tịnh độ
Ba nghiệp Như Lai đức vô cực
Nay con Nguyệt Quang lễ Tam bảo
Pháp Vương vô thượng, cây trong đời
Che mát chúng sinh vô lượng quang
Miệng thường nói pháp có nghĩa lý
Tâm trí vắng lặng chiếu sáng khắp
Sư tử trong người giảng chúng nghe
Ðại chúng hoan hỷ rải hoa báu
Trăm ức muôn cõi đều rung chuyển
Chúng sinh được phước đức vô lượng
Phật nói pháp cho mười bốn vua
Cho nên nay con lược khen Phật.

Bấy giờ, đại chúng nghe vua Nguyệt Quang khen ngợi Phật, Tứ Thiên vương vô lượng tạng công đức được pháp lợi lớn. Ngay tại chỗ ngồi có mười hằng hà sa Phạm vương, mười hằng hà sa quỷ thần vương, cho đến chúng sinh trong ba đường đều được Vô sinh pháp nhẫn. Tám bộ A-tu-la vương chuyển thân quỷ sinh lên cõi trời Thọ đạo hoặc ba đời nhập chánh vị, bốn đời, năm đời, cho đến mười đời được vào chánh vị, chứng pháp tánh của bậc Thánh được vô lượng phước đức.
Phật bảo các đại chúng đã đắc đạo:
Này thiện nam! Ở thời quá khứ trong mười ngàn kiếp, Nguyệt Quang này ở trong pháp của Phật Long Quang Vương là Bồ-tát Tứ Trụ, ta là Bồ-tát Bát Trụ. Nay ở trước ta Nguyệt Quang rống tiếng rống sư tử. Ðúng vậy, đúng vậy, như lời ông nói! Người được nghĩa chân thật thì giảng nói không thể suy nghĩ, luận bàn, không thể so lường. Chỉ có Phật và Phật mới biết được việc ấy.
Này thiện nam! Ta đã nói mười bốn Bát-nhã ba-la-mật, ba nhẫn với từng địa thượng, trung, hạ thành ra ba mươi nhẫn, tất cả Hạnh tạng, tất cả Phật tạng không thể suy nghĩ bàn luận.
Vì vậy, cho nên các việc sinh, diệt, giáo hóa, vô sinh, vô diệt, vô giáo hóa, vô tự, vô tha của chư Phật đều ở trong đây, bậc nhất không hai chẳng phải giáo hóa, chẳng phải không giáo hóa, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, không đến, không đi.
Vì như hư không nên tất cả chúng sinh vô sinh, vô diệt, không trói, không mở, chẳng phải nhân, chẳng phải quả, chẳng phải không nhân quả.
Vì phiền não ngã nhân, tri kiến, thọ giả ngã sở, tất cả khổ, thọ hành đều không, tất cả pháp nhóm họp, năm ấm huyễn hóa, không hợp, không tan. Pháp đồng pháp tánh. Vắng lặng như hư không, pháp giới cảnh đều không, không vô tướng, không lay chuyển, không điên đảo, không tùy thuận huyễn hóa, không Tam bảo, không bậc Thánh, không sáu đường.
Vì như hư không nên Bát-nhã không biết, không thấy.
Vì không hành, không duyên, không nhân, không thọ, không có tất cả tướng chiếu soi nên tướng hành đạo cũng như hư không.
Pháp tướng đã như vậy thì làm sao có tâm chứng đắc hay tâm không chứng đắc? Cho nên công đức Bát-nhã không thể ở trong chúng sinh hành mà hành, không thể ở trong pháp năm ấm hành mà hành, không thể ở trong cảnh hành mà hành, không thể ở trong giải hành mà hành, cho nên Bát-nhã không thể suy nghĩ, bàn luận. Ở trong tất cả chư Phật, Bồ-tát mà hành cho nên cũng không thể suy nghĩ bàn luận. Tất cả các Như Lai đối với pháp huyễn hóa vô trụ mà giáo hóa cũng không thể suy nghĩ, bàn luận.
Này thiện nam! Dù cho vô lượng hằng hà sa vị Khai sĩ quán đảnh thứ mười ba nói công đức này thì như lời vua đã nói không bằng một phần trong trăm ngàn ức phần, như một giọt nước trong biển cả. Nay ta lược nói một phần công đức đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh cũng được vô lượng Như Lai trong ba đời nói ra, được ba Hiền, mười Thánh khen ngợi vô lượng, là một phần công đức mà vua Nguyệt Quang đã nói.
Này thiện nam! Mười bốn pháp môn này, tất cả chúng sinh trong ba đời, Tam thừa chư Phật đều tụ tập. Chư Phật vị lai cũng giống như vậy, nếu tất cả chư Phật, Bồ-tát không nhờ pháp môn này mà chứng được Nhất thiết trí thì không bao giờ có việc ấy. Vì sao? Vì tất cả chư Phật, Bồ-tát đều không có con đường nào khác.
Cho nên các thiện nam, nếu có người nào nghe các pháp môn nhẫn: Tín nhẫn, Chỉ nhẫn, Kiên nhẫn, Thiện giác nhẫn, Ly đạt nhẫn, Minh tuệ nhẫn, Diệm tuệ nhẫn, Thắng tuệ nhẫn, Pháp hiện nhẫn, Viễn đạt nhẫn, Ðẳng giác nhẫn, Tuệ quang nhẫn, Quán đảnh nhẫn, Viên giác nhẫn thì người ấy thoát khỏi các khổ nạn trong trăm kiếp, ngàn kiếp, vô lượng hằng hà sa kiếp. Khi vào pháp môn này rồi thì hiện đời được phước báu.
Bấy giờ, trong các chúng có mười ức vị đồng danh hiệu là Bồ-tát Hư Không Tạng Hải, được pháp lạc hoan hỷ, cùng nhau tung hoa lên giữa hư không biến thành vô lượng đài hoa.
Trên đó, có vô lượng đại chúng giảng nói mười bốn chánh hạnh, mười tám Phạm thiên, Lục dục Thiên tử cũng tung hoa báu, mỗi vị đều ngồi trên một tòa hoa giữa hư không, giảng nói mười bốn chánh hạnh, thọ trì, đọc tụng, giảng giải nghĩa lý, vô lượng các quỷ thần hiện thân tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Phật bảo:
Ðại vương! Trước ông có hỏi: Tướng chúng sinh nào có thể giáo hóa được? Nếu dùng thân huyễn hóa mà thấy huyễn hóa đó là Bồ-tát chân thật thực hành giáo hóa chúng sinh.
Một niệm thức đầu tiên của thức chúng sinh khác với gỗ đá. Thức hoặc sinh thiện, hoặc sinh ác. Ác thì vô lượng thức ác làm gốc, thiện thì vô lượng thức thiện làm gốc. Từ một niệm Kim cang ban đầu cho đến một niệm cuối cùng sinh ra bất khả thuyết thức mới thành sắc tâm của chúng sinh, là căn bản của chúng sinh. Sắc tức là sắc cái, cái có công dụng ngăn che. Thân là tích tụ. Ðại vương, một sắc pháp này sinh ra vô lượng sắc. Mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, đất nâng đỡ, nước tươi nhuần, lửa nóng ấm, gió lay động. Chỗ sinh ra năm thức gọi là căn.
Như vậy một sắc, một tâm có vô lượng sắc tâm.
Ðại vương! Sáu thức của phàm phu thô động nên thấy có xanh, vàng, đỏ trắng, dài, ngắn, vuông, tròn… vô lượng sắc pháp giả. Sáu thức của bậc Thánh thanh tịnh nên đắc thật pháp, sắc, thanh, hương, vị, xúc, tất cả pháp thật. Chúng sinh là tên gọi của thế đế, hoặc có, hoặc không, chỉ sinh ra ức niệm chúng sinh, nên gọi là thế đế.
Thế đế do giả cuồng huyễn hóa cho nên có, cho đến sáu đường đều là huyễn hóa, chúng sinh thấy huyễn hóa, tức là huyễn hóa thấy huyễn hóa. Các sắc tâm như: Bà-la-môn, Sát-lợi, Tỳ-xá, Thủ-đà, Thần ngã… đều là huyễn đế. Pháp huyễn đế là không. Khi Phật chưa ra đời thì không có tên gọi, không có danh nghĩa. Huyễn pháp, huyễn hóa không danh tự, không thể tướng, không có tên gọi ba cõi, không có quả báo thiện ác, tên gọi sáu đường.
Ðại vương! Vì chúng sinh nên các Ðức Phật nối nhau xuất hiện ở đời, nói tên gọi ba cõi, sáu đường ấy gọi là vô lượng danh tự, như pháp không, pháp tứ đại, tâm pháp, sắc pháp, pháp tướng tục giả, chẳng phải một, chẳng phải khác. Một cũng chẳng tương tục, khác cũng chẳng tương tục. Chẳng phải một, chẳng phải khác gọi là Tục đế.
Pháp tương đãi giả, tất cả tên gọi đối đãi nhau, cũng gọi là bất định tương đãi, như sắc, thọ, tưởng, hành, thức, pháp có, pháp không… tất cả pháp đều duyên nhau mà thành, giả thành ra chúng sinh. Do nhân quả đồng thời, nhân quả khác thời, thiện ác ba đời, tất cả huyễn hóa là chúng sinh huyễn đế.
Ðại vương! Nếu Bồ-tát nào thấy chúng sinh huyễn hóa như trên đây đều là giả dối như hoa đốm trong hư không. Bồ-tát Thập trụ, chư Phật, Ngũ nhãn thấy như huyễn đế. Bồ-tát giáo hóa chúng sinh là như thế.
Khi Phật nói pháp như vậy có vô lượng vị Thiên tử và các đại chúng được phục nhẫn, đắc không, vô sinh nhẫn… cho đến nhập vào địa vị thứ nhất cho đến địa vị thứ mười, đạt được đức hạnh không thể nêu bày hết.

Phẩm 4: NHỊ ÐẾ

Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc thưa:
Bạch Ðức Thế Tôn! Trong Ðệ nhất nghĩa đế có Thế đế không? Nếu không thì Trí tuệ ba-la-mật không nên có hai, nếu có thì Trí không nên có một. Nghĩa một hai việc ấy như thế nào?
Phật bảo:
Ðại vương! Thời quá khứ ông đã hỏi bảy Ðức Phật về nghĩa hoặc một hoặc hai. Nay ông chẳng nghe, nay ta chẳng nói. Không nghe, không nói tức là nghĩa hoặc một hoặc hai. Hãy lắng nghe khéo suy nghĩ như pháp tu hành. Ðây là bài kệ của bảy Ðức Phật:

Vô tướng nghĩa bậc nhất
Không tự cũng không tha
Nhân duyên vốn tự có
Không tự cũng không tha
Pháp tánh vốn vô tánh
Là Ðệ nhất nghĩa không
Các pháp hữu vốn hữu
Ba giả tập giả có
Không không đế thật không
Vắng lặng, không bậc nhất
Các pháp do duyên có
Có, không nghĩa như vậy
Có, không vốn tự hai
Như trâu có hai sừng
Giải thoát thấy không hai
Hai đế thường thấy hai.
Tâm giải thấy không hai
Tìm hai không thật có
Hai đế chẳng phải một
Chẳng hai làm sao được
Giải thoát là thứ nhất
Trong đế thường có hai
Thông đạt không hai này
Thật vào nghĩa bậc nhất
Thế đế huyễn hóa sinh
Như hoa đốm giữa không
Ðều do tay dụi mắt
Nhân duyên nên giả có
Huyễn hóa thấy huyễn hóa
Chúng sinh gọi huyễn đế
Huyễn sư thấy huyễn pháp
Ðế thật thì đều không
Ðây là chư Phật quán
Bồ-tát quán cũng vậy.

Ðại vương! Vị Ðại Bồ-tát đối với Ðệ nhất nghĩa đế thường thấu rõ hai đế để giáo hóa chúng sinh. Phật và chúng sinh chỉ là một không hai. Vì sao? Vì chúng sinh không, nên biết Bồ-đề không. Vì Bồ-đề không, nên biết rõ chúng sinh không. Vì tất cả pháp không cho nên không cũng không. Vì sao? Vì Bát-nhã vô tướng nên hai đế hư không, Bát-nhã không từ vô minh cho đến Nhất thiết trí không có tự tướng, không có tha tướng.
Khi thành tựu Ngũ nhãn thấy được chỗ không thể thấy, hành cũng không thọ, không hành cũng không thọ, chẳng phải hành, chẳng phải không hành cũng không thọ, cho đến tất cả pháp cũng không thọ.
Khi Bồ-tát chưa thành Phật thì Bồ-đề tức phiền não, khi Bồ-tát thành Phật thì phiền não tức Bồ-đề, cho nên đối với đệ nhất nghĩa không hai. Chư Phật Như Lai cho đến tất cả pháp đều như.
Bạch Thế Tôn! Vì sao các Ðức Như Lai, tất cả Bồ-tát trong mười phương khi thực hành các pháp tướng không xa lìa văn tự.
Ðại vương! Pháp luân là pháp Bản như, Trùng tụng như, Thọ ký như, Bất tụng kệ như, Vô vấn nhi tự thuyết như, Giới kinh như, Thí dụ như, Pháp giới như, Bản sự như, Phương quảng như, Vị tằng hữu như, Luận nghĩ như, gọi là vị cú. Âm thanh, quả báo, văn tự, ký cú đều như. Nếu người chấp lấy văn tự thì không có hành không.
Ðại vương! Văn tự như như là tu tập theo trí tuệ của chư Phật, là căn bản trí mẫu của tất cả chúng sinh, là thể của Nhất thiết trí.
Khi chư Phật chưa thành Phật thì lấy đang thành Phật làm trí mẫu, chưa được là tánh khi đã được thành Phật thì là Nhất thiết trí. Bát-nhã trong ba thừa tự tánh thường trụ bất sinh, bất diệt.
Tất cả chúng sinh lấy Bát-nhã làm giác tánh. Nếu Bồ-tát vô thọ, không văn tự, lìa văn tự, phi phi văn tự. Tu vô tu gọi là tu, được Bát-nhã chân tánh, Bát-nhã ba-la-mật. Ðại vương! Bồ-tát hộ trì Phật, che chở, giáo hóa chúng sinh, hộ trì hạnh mười Ðịa là như vậy.
Bạch Thế Tôn! Chúng sinh có vô lượng phẩm căn tánh cũng vô lượng, hạnh cũng vô lượng, vậy pháp môn là một hay là hai, hay là vô lượng?
Ðại vương! Tất cả pháp quán chẳng phải một, chẳng phải hai; mà có vô lượng tất cả pháp, cũng chẳng phải hữu tướng, chẳng phải vô tướng. Nếu Bồ-tát thấy chúng sinh thấy một, thấy hai tức không thấy một, không thấy hai. Một, hai là Ðệ nhất nghĩa đế.
Ðại vương! Hoặc có hoặc không tức là Thế đế. Vì ba đế: Không đế, Sắc đế, Tâm đế thâu nhiếp tất cả các pháp, nên ta nói tất cả pháp không ra ngoài ba đế. Các pháp ngã, nhân, tri kiến, năm thọ ấm… cho đến tất cả pháp đều là không. Căn hạnh của mỗi loại chúng sinh khác nhau nên pháp môn chẳng phải một, chẳng phải hai.
Ðại vương! Bảy Ðức Phật nói Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật. Nay ta nói Bát-nhã ba-la-mật không hai, không khác đại chúng các ông nên thọ trì, đọc tụng, giảng nói kinh này thì được công đức vô lượng, không thể nói hết được. Mỗi Ðức Phật giáo hóa vô lượng chúng sinh.
Mỗi chúng sinh đều được thành Phật. Khi đã thành Phật lại giáo hóa vô lượng chúng sinh đều thành Phật.
Trên đây Ðức Phật đã ba lần nói Bát-nhã ba-la-mật gồm tám vạn ức bài kệ. Trong mỗi bài kệ lại chia thành ngàn phần. Trong một phần lại được phân biệt rõ ràng từng câu, nghĩa lý không cùng tận.
Nếu đối với kinh này có một niệm kính tin thì công đức của chúng sinh đó hơn hẳn công đức trong trăm ngàn kiếp ở Thập địa, huống gì thọ trì, đọc tụng, giảng nói thì công đức đồng như chư Phật mười phương không khác; nên biết người này không bao lâu sẽ thành Phật. Khi nghe nói kinh này, trong đại chúng có mười vạn người đắc Tam không nhẫn. Trăm vạn ức người đắc đại không nhẫn Thập địa tánh.
Ðại vương! Kinh này tên là kinh Nhân Vương Vấn Bát-nhã Ba-la-mật, các ông nên thọ trì. Kinh này có vô lượng công đức gọi là công đức hộ quốc, cũng là pháp lạc của các quốc vương, cũng là công đức hộ trì nhà cửa, cũng là hộ trì thân của tất cả chúng sinh.
Bát-nhã ba-la-mật này che chở cõi nước giống như hào, thành, vách, tường, đao, mâu, kiếm… các ông thọ trì Bát-nhã ba-la-mật cũng giống như vậy.