Home » Phật Đản - Vu Lan » Phát Bồ-Đề Tâm Nơi Địa Ngục A-Tỳ

Phát Bồ-Đề Tâm Nơi Địa Ngục A-Tỳ

Như những vì sao băng, xuyên qua đêm trường vô minh, tạo thành một đường sáng dài vô tận nơi trần thế, dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi những khổ đau, chuyển màu nhân thế. Tất cả chư Phật, chư đại Bồ-tát dường như đều bắt đầu từ một sát-na tâm duy nhất, khi các ngài phát Đại Nguyện Bồ-Đề. Ấy là khoảnh khắc đầu tiên từ trái tim vốn khép kín bởi bản năng tự thủ của chúng hữu tình. Bất chợt tâm ấy mở rộng bao la như biển cả, thề nguyện đem chính mình làm thuyền, làm bến, làm ngọn hải đăng dẫn lối cho vô lượng chúng sanh đang bị trầm luân, chìm đắm sông mê.

Từ đó, đạo lộ giải thoát đã trải dài qua ba a-tăng-kỳ kiếp. Ở nơi số kiếp ấy không còn là phép đếm của thời gian, mà là phép đo lường của từ bi và trí tuệ được viên thành.

Một truyền tích thật oai hùng, mạnh mẽ và ấn tượng nhất được kể lại trong kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, vào thuở xa xăm nào đó, Đức Thích Ca “khi còn ở trong vòng sinh tử, do phiền não trọng chướng, đã tạo nên những nghiệp ác ở nơi thân, khẩu, ý, nên phải đoạ lạc vào các địa ngục như: Địa ngục A-ha-ha, địa ngục A-ba-ba, địa ngục A-đạt-đa, địa ngục Đồng phủ, địa ngục Đại đồng phủ, địa ngục Hắc thạch, địa ngục Đại Hắc thạch, cho đến địa ngục Hoả xa” 1. Ngay nơi tăm tối ấy tưởng chừng như tuyệt vọng, một tia chớp từ bi thương xót trong tâm khảm nhỏ bé còn sót lại, đã loé lên sự ấm áp nơi đoạ đầy. Trong kinh nói, Ngài đã khởi lên một niệm thiện lành chỉ xin gánh chịu những khổ ngục đớn đau cho chúng sanh đang phải gánh chịu.

Từ tia chớp nhỏ bé ấy, rồi trải qua vô lượng kiếp sau, Ngài từ nội viện Cung trời Đâu-suất thị hiện giáng trần nơi vương thành Ca-tỳ-la-vệ. Là từ đó, nhân gian bắt đầu nhen nhúm niềm vui. Ba ngàn đại thiên thế giới cũng hân hoan chuyển động để sẵn sàng cung đón Bồ-tát hạ thiên cung.

Lâm-Tỳ-Ni Viên Vô Ưu Thọ vẫn còn đó, nhưng ngài đã từ bỏ ngai vàng, một mình bước vào rừng sâu, ngồi dưới cội bồ-đề, chứng thành đạo quả, thuyết pháp độ sanh. Đường đi của Phật như một bản nhạc của vũ trụ với hợp âm ban đầu là phát tâm Bồ-đề mà chủ âm ấy là từ bi, điệp khúc ấy là trí tuệ và cuối cùng là đoạn kết tự tại vô ngại.

Từ trong nội tâm sâu thẳm ấy, chúng ta thử hình dùng “Bồ-đề tâm” như một đạo quân dũng kiện, không kéo lê gươm giáo đẫm máu qua chân người, mà tiến vào trận chiến thẳm sâu của chính mình. Nơi đó có giặc dữ là tham, sân, si, luôn lưu trữ, nơi cố chấp ngã mạn, nơi sương mù hoang tưởng giữa đêm trường vô minh.

Kinh Pháp Cú nói “Chiến thắng vạn quân, không bằng tự thắng mình, tự thắng mình là chiến công oanh liệt nhất”.

Đạo quân dũng kiện luôn tiên phong, cắm soái kỳ phất phới trong chiến trường làm chí nguyện độ sanh, nếu không có ngọn cờ này thì mọi chiến thuật đều tản mác vô điều kiện. “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Lấy giáp trụ làm nhẫn nhục để vượt qua, nhẫn trong đạo Phật không phải là sự chịu đựng trong câm lặng, mà là giữ ấm lòng từ trong mọi hình thức của bát phong, là chuyển hoá, và là sự uyển chuyển, phương tiện hoá giải để đỡ được các mũi tên độc của phỉ báng hay các mũi mác của nghịch cảnh. Lấy Trí tuệ Bát nhã làm kiếm báu để dễ dàng chẻ đôi bóng tối vô minh, cắt lìa các vọng tưởng sai lầm điên đảo, khiến cho kẻ ác tặc không còn nơi ẩn trú, hàng phục mọi ma oán.

Nếu đủ lòng từ bi rộng lớn sẽ che chở cho mình và người, khiến cho mũi tên sân hận có lao đến cũng sẽ trở thành những hạt mưa rơi tưới mát cho nhân chủng bồ-đề. Dù cho ở bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng lấy tinh tấn làm mỗi nhịp bước đi không mỏi mệt, ngã thì đứng lên, tối thì thắp đèn, mưa thì khoác áo mưa chứ không hề bỏ cuộc. Điều quan trong là lấy giới luật và thiền tập làm hàng ngũ nội tâm chỉnh tề, là kỷ luật của đạo quân từ bi, để sức mạnh không trở thành lửa rừng, không loạn động trước nghi binh của ma quân vọng tưởng.

Nuôi dưỡng tâm hạnh bố thí, cúng dường, khi cho đi không vì thiếu, mà vì biết mình vốn đủ đầy. Chiến trường ấy không ở đâu xa mà ngay nơi bếp lửa hồng khi ta rửa thêm một cái chén cho người khác hay như trên toa xe đông người khi ta nhường một chỗ ngồi cho người lớn tuổi, nhặt một cái gai giữa đường, xây một cây cầu ở miền quê, v.v… Mỗi cử chỉ như thế là một trận nhỏ thắng lợi, nhích đường biên của tự ngã lùi vào, và mở đất cho từ tâm trổ bông.

Từ A-tỳ địa ngục đến nội viện Đâu-suất, từ cung đình Ca-tỳ-la-vệ đến gốc cây Bồ-đề là một hành trình mẫu mực và ẩn dụ thật sống động. Như lò rèn luyện của đại bi tâm. Khi hun đúc được chín muồi đủ độ sẽ trở thành trí giác và khi đủ độ trí giác sẽ biết tìm đúng cánh cửa để bước vào nhân gian, mà vì chúng sanh khai ngộ. Mang lý tưởng siêu việt qua hình ảnh của một sơ sanh nơi vườn Lâm-tỳ-ni, dõng dạc bước đi và tuyên ngôn: “Thiên thượng thiên hạ. Duy ngã độc tôn” để nhắc nhở chúng ta rằng, giác ngộ bắt đầu từ sự chân thật.

Rời cung điện đến ngồi dưới cội bồ-đề hàng phục ma binh làm một cuộc cách mạng lớn lao, thay đổi, đều chỉ cần một khoảnh khắc tuyệt đối, đó là ngồi yên, buông hết để thấy tất cả. Chuyển hoá thời gian vũ trụ thành từng khoảnh khắc của nhân sinh. Qua ba a-tăng-kỳ kiếp đã lập chí nguyện độ sanh không hề thoái chuyển. Ở cõi người, cùng một hơi thở chánh niệm cũng có thể là một “kiếp” thu gọn cuối cùng.

Đối với chúng ta, mỗi sáng thức dậy, ta cũng có một kiếp mới để tập nhìn bằng mắt của Phật. “Thuỳ miên thỉ ngộ, đương nguyện chúng sanh, nhất thiết trí giác, châu cố thập phương” 2. Mắt của Phật trong mỗi chúng ta, chứ không phải mắt thần thông mà là đôi mắt biết thấy người khác cũng đang sợ hãi, đang cần được dắt dìu.

Như vậy, chúng ta cũng sẽ thực tập nuôi dưỡng Bồ-đề tâm trong đời thường, như nhìn thấy mình mang ơn môi trường trong sạch, không khí trong lành, hạt gạo trắng thơm từ đôi bàn tay xa lạ của nông phu, chiếc áo ấm từ người dệt vải. Đặc biệt là thấy rõ cấu trúc của khổ đau nơi trần gian, để từ bi có điểm tựa thực tế .3 Thấy rõ như vậy để dễ dàng phát tâm bồ-đề hơn. Hãy chọn một hạnh nguyện nhỏ mà bền lâu, giống như mỗi ngày làm một việc thiện vô danh nào đó. Như Dòng suối nhỏ đào được, dẫn nước vào ruộng khô cằn chỉ khi kiên trì qua năm tháng. Nghe lời Tổ dạy, thân cận thiện hữu như đi cùng những người cũng mang hạnh nguyện Bồ tát, để khi ta chùn tay, cũng có đồng tu nâng đỡ. Tất cả có được chỉ mong hồi hướng, kết mỗi việc lành bằng lời gửi tặng để công đức không đóng cục thành “cái tôi”, mà tan chảy tiếp nối thành dòng suối mát thanh lương. Trong Luận Thập Trụ Tỳ-Bà-Sa, có hỏi đáp về cái tâm bồ-đề như sau, “Hỏi: Mất tâm Bồ-đề là mất những pháp gì? Đáp: Một là không kính trọng giáo pháp. Hai là có tâm niệm kiêu mạn. Ba là nói dối, nói không chân thật. Bốn là không kính trọng tri thức”.4

Trong cuộc đăng trình, đôi khi cũng thất chí, nhưng chúng ta hãy nhớ lấy, nghịch duyên là bạn đạo muôn thuở. Ma quân không chỉ gầm thét mà chúng cũng thì thầm nhỏ to, “Vô ích thôi.” Khi nghe câu ấy, ta mỉm cười. Vì chính lúc thấy vô ích, lòng kiên nhẫn mới đủ cơ duyên nở hoa. Hãy xem lời chê trách là sỏi đá mài gươm trí tuệ, xem hiểu lầm là cơ hội kéo gần trái tim từ bi và xem thất bại là màn đêm cần thiết để nhìn rõ một vì sao định hình cho phương hướng. Thực tập an trú tâm sẽ không bị bát phong lay động, an nhiên như đại địa, vô nhiễm như hư không, trường lưu như sông lớn, cho dù người dữ dằn ác tâm muốn hại cũng không ôm lòng sân hận.

Không có thành tựu giác ngộ nào khởi lên từ hư vô. Chư Phật, chư Đại Bồ-tát đều do một nhân duyên ban đầu, khởi Bồ-đề tâm trong mọi hoàn cảnh, tức chí nguyện sâu xa cầu thành Phật vì lợi ích cho vô lượng chúng hữu tình. Từ mầm mống này, mọi hạnh nguyện, mọi công đức, mọi trí tuệ mới kết thành sự giác ngộ viên mãn.

Câu chuyện về Đức Phật Thích Ca khởi niệm thiện lành ngay giữa cùng cực khổ đau, nơi A-tỳ địa ngục rồi trải qua ba a-tăng-kỳ kiếp vun trồng phước trí, từ cung Đâu-suất mà giáng thần Lâm-tỳ-ni, xuất gia, chứng đạo dưới cội Bồ-đề. Dù hiểu theo lịch sử hay biểu tượng, câu chuyện ấy đều nêu bật một nguyên lý nhân văn, khởi tâm đúng đắn sẽ định hình toàn bộ con đường.

Bồ-đề tâm là buổi bình minh đánh thức mặt trời trí tuệ, cũng là đạo quân dũng kiện xuất chinh vì an lạc của muôn loài. Khi ta nâng cao ngọn cờ nguyện lực, mặc giáp giới đức, rèn kiếm trí tuệ, luyện cung định lực, nuôi hậu cần tín tâm và từ bi, mọi bước chân đều trở thành chiến thắng, không phải chiến thắng ai khác, mà là chiến thắng chính những mê mờ khiến ta khổ lụy.

Từ một niệm phát tâm ở nơi tối tăm nhất, Phật đã thắp lên được bình minh cho cả cõi đời. Chúng ta, dẫu chưa là mặt trời, vẫn có thể là những tia ban mai đầu tiên trên ô cửa ai đó. Hãy cầm lấy ngọn cờ Bồ-đề tâm. Một ngọn cờ không phất phới vì gió kiêu hãnh, mà lay động bởi nhịp thở dịu lành rồi chậm rãi bước đi. Bước giữa cuộc vô thường với đôi tay nhẹ, bước qua cánh đồng với gót chân biết ơn, bước trong đêm tối với ánh mắt hiểu ta và người. Và khi trống trận của tinh tấn vang lên trong lồng ngực, khi giáp nhẫn nhục ôm trọn mũi tên đời, khi kiếm trí tuệ rạch toạc một đám mây hiểu lầm, ta sẽ thấy điều kỳ diệu. Chiến trường hóa thành vườn hoa tâm rực rỡ. Cỏ non mọc lên nơi trận địa cũ, tiếng chim hót vang thay cho tiếng giáo gươm và kẻ thù lớn nhất là vô minh, hóa ra chỉ là một đứa trẻ lạc đường được nắm tay đưa về. Bồ-đề tâm là vậy, một đạo quân không ai phải chết, mà ai cũng được sinh ra lần nữa. Hãy phát tâm ngay bây giờ, giữa một hơi thở vào ra để bắt đầu cuộc trở về dài lâu mang hơi ấm ấy.

Và như thế, dẫu đang đứng nơi “địa ngục” của khổ đau hiện tại, chỉ cần khởi một niệm lành, một tâm nguyện rộng lớn, cỗ máy nhân quả sẽ vận hành theo hướng giải thoát. Từ một ý niệm đúng đắn, cả một đời thậm chí vô lượng đời cũng sẽ đổi khác. Đó chính là nhiệm mầu của Bồ-đề tâm, khởi nguyên khiêm tốn, mà kết quả vô cùng. Bắt đầu trong trái tim một người, mà kết thúc trong vô lượng an lạc.

Nam Mô A-Tỳ Ngục Tốt Sơ Phát Thiện Tâm.
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Như Tú

  1. Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, quyển 2, phẩm thứ tư, phát tâm bồ đề. tr.135-146. Thích Chính Tiến và Thích Quảng Độ dịch. ↩︎
  2. Tỳ Ni Nhựt Dụng Thiết Yếu. Thích Trí Quang dịch giải. (Ngủ nghỉ mới thức, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, nhìn khắp mười phương) ↩︎
  3. Huyền Thoại Duy Ma Cật, tr. 72. Tuệ sỹ, NXB Hồng Đức (Bằng hành vi đơn giản thường nhật, Bồ-tát cho người đói một nắm cơm, cho người lạnh một manh vải. Tình yêu thương lớn dần. Hiểu thấu những thống khổ của người bằng chính tâm tư và tình cảm của người. Bồ-tát thể nghiệm tình người chính là thể nghiệm tự tính của pháp giới…..) ↩︎
  4. 《十住毘婆沙論》卷4〈7 調伏心品〉:「答曰:」「何等法失菩提心?答曰:一、不敬重法,  二、有憍慢心, 三、妄語無實,  四、不敬知識。 」(CBETA 2026.R1, T26, no. 1521, p. 36b16-19) ↩︎